PHẬT HỌC PHỔ THÔNG
tác giả: Hòa Thượng Thích Thiện Hoa
| Quyển 1 | Quyển 2 | Quyển 3 |

Quyển 2 (Khóa 5,6,7,8)
Khóa 5: Lịch Sử Truyền Bá Phật Giáo,
10 Tông Phái và Vũ Trụ Nhơn Sanh

Mục Lục Quyển 2
Khóa 5

Khóa 6 (Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm)

Khóa 7 (Đại cương Kinh Lăng Nghiêm tiếp theo)

Khóa 8 (Kinh Viên Giác)

Bài Thứ 1

Lịch Sử Phật Giáo Ấn Ðộ

A.-Mở Đề 

Khao-khát cái tuyệt-đối, khinh-thường cái cái trương-đối ; mong cầu cái vĩnh-viễn trường-tồn, ruồng-bỏ cái biến-chuyển vô-thường, người Viêt-Nam nói riêng và người Á-Châu nói chung đã được huân-tập mấy ngàn năm trong một thái-độ tư-tưởng như trên, nên đã xem thường lịch sử vẻ vang, là một môn học theo sát sự biên-chuyển vô-thường của sự thế, mà mục-đích là mong ghi chép một cách trung-thành những gì đã biến mất trong bóng tối của thời-gian .Quan-niệm khinh thường lịch sử vẻ vang ấy đã đem lại cho tất cả chúng ta nhiều điều tai-hại không nhỏ. Chúng ta đã bỏ mất bao nhiêu bài học kinh nghiệm quý giá mà ông cha tất cả chúng ta mua với một giá rất đắt ; tất cả chúng ta đã mất rất nhiều liên lạc với quá-khứ, tắt mất đường thông-cảm với người xưa, và đang lạc-loài trong hiện tại vì không biết nên bỏ con đường nào và nên theo con đường nào. Người ta thường nói rất đúng : một dân-tộc không quá-khứ, thì cũng khó mà có tương-lai .Riêng trong phạm-vi Phật Giáo tất cả chúng ta, tìm về cho đúng nguồn-gốc, thử vạch lại con đường đi truyền-giáo của ông cha, thiết kế xây dựng lại mô-hình của một thời-đại huy-hoàng của Phật Giáo, đó là những công-việc vô cùng khó-khăn, nhọc mệt .Nhưng mặc dầu mệt nhọc, khó-khăn, không lẽ thấy vết xe đổ của người xưa mà nay tất cả chúng ta không tránh, cứ nhắm mắt đi càn ? Người xưa đã xem thường lịch sử dân tộc, thời nay trái lại, tất cả chúng ta phải dành cho nó một địa-vị quan-trọng. Có thấy rõ được nguồn-gốc, sự phát-triển, những thời-đại thịnh-suy của môt tôn giáo, tất cả chúng ta mới hiểu rỏ được giá trị chân-thật của tôn-giáo ấy. Nhất là nếu tất cả chúng ta là những người có nhiêm-vụ truyền-bá giáo-lý của Phật-Đà, thì hơn ai cả, tất cả chúng ta phải học lịch sử dân tộc Đạo-Phật để tìm hiểu và khám phá lẽ thịnh suy, nguyên-nhân những thành bại của công-cuộc hoằng-dương chánh-pháp trên khắp năm châu, hầu bắt chước những điều hay có lợi cho Đạo, bỏ những điều dở, có hại cho Đạo, để Phật-Pháp được hoằng truyền mãi mãi với thời-gian .Vậy thứ nhất, tất cả chúng ta hãy trở lại nguồn, tuần-tự đi theo bước chân trên đường truyền giáo, từ khi Đức Giáo-chủ Thích-Ca mới xuất-thế ở Ấn Độ, từ từ qua Trung – Hoa, rồi đến Việt-Nam, để ở đầu cuối có một ý-niệm tổng-quát về hiện-tình Phật Giáo ở nước nhà và trên Thế-Giới phức-tạp ngày này .

B.- Chánh Đề 

Phật Giáo Ở Ấn Độ 

I.- Sự Khai Nguồn Của đức Giáo Chủ Thích Ca 

1.- Tình-trạng xã-hội đen tối và tư-tưởng phức-tạp ở Ấn Độ khi đức Phật xuất-thế

Xét về sự bất bất công trong xã-hội trên 2500 năm trước đây, thì xã-hội Ấn Độ có lẽ rằng là một trong những xã-hội có một chế-độ xã-hội và chính-trị bất công nhất. Dân chúng Ấn Độ thời bấy giờ bị phân loại rất nhiều giai-cấp khác nhau, tựu trung hoàn toàn có thể liệt vào những giai-cấp chính sau đây :a ) Bà-la-môn ( Brhmanes ) gồm những Giáo-sĩ, những người giữ quyền thống-trị tinh-thần, phụ-trách về lễ-nghi, cúng bái. Họ tự nhận mình là hạng cao-thượng, sinh từ lỗ miệng Phạm-Thiên ( Brahma ) hay Phạm-Thiên cầm cương chỉ huy tinh-thần dân-tộc, nên có quyền ưu-tiên được tôn-kính, và an-hưởng cuộc sống sung-sướng nhất .b ) Sát-đế-ly ( Kastryas ) là hàng vua chúa quý-phái, tự cho mình sinh từ cánh tay Phạm-Thiên, thay mặt đại diện cho Phạm-Thiên nắm giữ quyền-hành thống-trị dân-chúng .c ) Vệ-Xa ( Vaisyas ) là nhữnh hàng thương-gia chủ-điền, tin mình sinh ra từ bắp về Phạm-Thiên, có nhiệm-vụ đảm-đương về kinh-tế trong nước ( mua và bán, trồng-trọt, thu huê-lợi cho quốc-gia ) .d ) Thu-Đà-La ( Souđras ) là hàng Hà-tiện, nô-lệ tinh mình sinh từ gót chân Phạm-Thiên, nên thủ-phận làm khổ-sai suốt đời cho những giai-cấp trên .Ngoài bốn giai-cấp trên, còn có một hạng người hà-tiện nhất là giống Ba-ri-a ( Pariahs ) giống dân-tộc mọi rợ, bị coi như sống ngoài lề xã-hội loài người, bị những giai-cấp trên đối-xử như thú-vật, vô cùng khổ nhục, tôi-tăm .Năm giai-cấp này mặc y-phục sắc tố khác nhau. Mỗi giai-cấp sống theo luật lệ mạng lưới hệ thống cha truyền con nối, không được đổi khác nghề-nghiệp hay cưới hỏi lẫn nhau, và không được chuyển dời chổ ở khác. Theo luật Bà-la-môn, chỉ ba giai-cấp trên có quyền đọc kinh, học đạo, còn hai giai-cấp dưới thì đời đời chỉ làm nô lệ cho ba giai-cấp trên mà thôi .Hạng Bà-la-môn hưởng sung sướng nhàn-hạ bao nhiêu, thì đám người hà-tiện ở dưới lại khổ sở, nhục-nhã bấy nhiêu. Sự bất công xã-hội thật không thể nào diễn-tả nổi. Giữa người với người, thật không có một nhịp cầu thông-cảm nào, nguồn yêu thương tắc nghẹn, giai-cấp này so với giai-cấp khác là đối phương mà càng bóc lột được bao nhiêu là càng tốt bấy nhiêu .Về phương-diện tôn-giáo, Triết-học, tư-tưởng thì xã-hội Ấn Độ thời bấy giờ cũng diễn ra một cảnh-tượng vô-cùng hỗn-tạp. Về tín-ngưỡng người thờ thần lửa kẻ thờ thần núi, thần sông, kẻ thờ thần gió, thần chớp, thần mặt trời. Về triết-học, kẻ cho rằng Phạm-Thiên là căn-bản của vũ-trụ, vạn-hữu, kẻ cho rằng đất là cơ bản, kẻ cho rằng nước là căn – bản, kẻ cho rằng gió là cơ bản … có phải đi xa hơn, từ cụ-thể đến trìu-tượng, lập ra những thuyết : thời hạn luận, khoảng trống luận, phương-hướng luận, chủ-trương nhất nguyên, nhị nguyên, đa nguyên … Gồm một trăm phái khác nhau, luôn luôn đã kích chóng báng nhau .Tóm lại, xã-hội Ấn Độ lúc bấy giờ là một xã-hội về vật-chất thì đang rên-siết dưới ách bất công, áp-bức, về tinh-thần thì đang quay-cuồng, điên-đảo trong những luồng tư-tưởng lỳ thuyết rối-reng, tà-vay. Xã-hội ấy đang khao-khát tình thương và bình đẳng, đang mong đợi được chói rạng dưới ánh sáng của trí-huệ .Trong hoàn-cảnh ấy, Đức Phật Thích-Ca đã xuất-hiện đúng lúc để cứu vớt cõi đời sầu khổ .

2.- Đức Phật Thích-Ca ,vị giáo-chủ của Đạo Từ-bi và Trí-huệ: 

a ) Niên-lịch Giáng-Sinh .Như tất cả chúng ta đã nói ở phần mở đề, người Phật-Tử tất cả chúng ta không cho vấn-đề lịch sử vẻ vang là quan-trọng ; lại thêm trải qua một thời-gian lâu bền hơn từ khi Đức Phật xuât-hiện đến nay, tài-liệu bị thất-lạc nhiều, nên có nhiều thuyết khác nhau về niên-lịch Giáng-Sinh của Đức Phật .Tuy thế, thời nay để được thống-nhất toàn vẹn về niên-lịch Phật Giáo thế-giới họp tại Đông-Kinh năm 1952, đã thỏa thuận hợp tác rằng ngày trăng tròn tháng hai của xứ Ấn Độ ( tức ngày rằm tháng tư âm-lịch ) năm 624 trước Jésus Christ sinh ra là ngày Đàn-sanh của Đức Phật Thích-Ca. Như vậy, tính đến năm nay ( 1964 ) thì Đức Phật Giáng-sinh đã được 2588 năm ( 1964 + 624 ). Nhưng nếu tất cả chúng ta thấy ghi Phật-lịch 2508 ( tính đến năm Tây-lịch là 1964 ) là vì Tổng-hội Phật Giáo Quốc-Tế lấy năm nhập Niết-bàn của Đức Phật làm năm đầu kỷ-nguyên, chứ không phải lấy năm sinh ( 2588 – 80 năm đời Đức Phật = 2508 ) .b ). Quốc-độ và dòng họ .Thời bấy giờ xứ Ấn Độ gồm nhiều tiểu-quốc, khi hòa khi chiến với nhau như đời Chiến-quốc bên Tàu. Tuy thế, đại-cuộc vẫn thu về nước Ma-kiêt-đà ( Magatha ) như nhà Chu ở Trung-Quốc so với những nước chư-hầu vậy. Nước này lớn nhất ở phía nam sông Hằng-Hà ( Gange ) làm TT cho toàn xứ Ấn Độ. Ơí phía Bắc xứ Ấn Độ, gần dưới chân dãy núi Hy-mã-lạp-sơn ( Bây giờ là nước Népal ) có một Quốc-độ tên là Ca-tỳ-la-vệ ( Kapilavastu ). Vua trị-vì nước này là Tịnh-Phạm-Vương ( Sudhodana ) thuộc giai-cấp Sát-dế-ly ( Kastrya ) dòng Kiều-Tât-la ( Gotama ) là một đại quý tộc ở Ấn Độ. Bà Hoàng-Hậu, vợ của vua Tịnh-Phạn là Ma-Gia ( Maha-maya ) đến 45 tuổi mới có thai .Theo tục lệ Ấn Độ, gần ngày sinh, Hoàng-Hậu quay trở lại nhà cha mẹ là vua A-Nậu-Thích-Ca ( Anucakya ) ở nước Câu-Ly ( Koli ). Một buổi bình minh, Hoàng-Hâu ra đi dạo trong vườn hoa Lâm-Tỳ-ny ( Lumbini ) và sinh hạ Thái-tử ở đấy. Thái-tử được đặt tên là Tất-Đạt-Đa ( Siddharta ) và theo tục lệ Ấn Độ lấy họ mẹ là Thích-Ca ( Cakya ). Sau khi đã sanh Thái-tử Tất-Đạt-Đa được 7 ngày, Hoàng-hậu Ma-Gia tạ thế. Em gái của hoàng hậu là Ma-Ha-Ba-Xà-Ba-Đề ( Maha-Prajapati ) thay chị nuôi Thái-Tử Tất-Đạt-Đa cho đến lớn .Thái-tử Tất-Đạt-Đa, sau này tức là Đức Phật Thích-Ca Mâu-ni, vị Giáo-chủ từ-bi và trí-huệ của Đạo Phật .c ) Hình-tướng và tư-chấtHình tướng của Thái-Tử có những nét đặc biệt quan trọng hơn người thường : Ngài có ba mươi hai tướng quý và tám mươi vẽ đẹp. Cho nên khi xem tướng Ngài, Đạo sĩ A-Tư-Đa ( Asita ) đã tiên đoán sau này Ngài sẽ thành Phật, làm chủ cả tam thế, dắt đường chỉ nẻo cho chúng sinh thoát khỏi bể khổ luân-hồi .Thuở thơ ấu, tư chất mưu trí và tánh tình đức-độ của Ngài đã biểu lộ một cách rỏ rệt. Những Đạo-sĩ uyên bác, những Vỏ-sĩ tài danh điều được Tịnh-Phạn vương mời đến dạy cho Thái-Tử ; và chẳnh bao lâu Thái-Tử đã trở thành một vị văn vỏ toàn tài, không ai sánh kịp .Cùng một nhịp với tài-năng, đức-độ của Ngài cũng được tăng trưởng một cách vô cùng nhanh gọn và sâu rộng. Tình thương của Ngài lan tràn, bao trùm tổng thể mọi vật mọi người .Và củng do tư chất mưu trí nhìn thấy rỏ được tánh cách giả dối, vô thường của sự thế, và lòng thương vô hạn, không hề ngồi yên để nhìn thấy sự rên-siết, khổ đau của cỏi đời, nên tâm-hồn của Ngài không khi nào được yên ổn. Ngày đêm, Ngài luôn luôn nghĩ đến giải pháp cứu khổ cho chúng sinh .Vua Tịnh-Phạn, để làm khuây-khỏa lòng con, truyền dựng lên một hoàng cung nguy nga, bày đủ trò đàn ca múa hát vây hãm lấy Thái-Tử, và còn cưới cho Ngài một người vợ tuyệt-thế giai-nhân làm nàng Da-Du-Đà-La ( Yosodhara ) nhưng Thái-Tử vẫn không khuây nổi buồn bát ngát của cõi thế .d ) Xuất-gia. – Năm ngài mười chín tuổi ( có chổ nói 29 tuối ) sau khi đã để lại cho Tịnh-Phạn vương một người cháu nội là La-Hầu-La ( Lahula ). Thái-Tử quyết – định rời bỏ Hoàng-gia, từ bỏ cuôc đời vinh – hoa phú-quy, trốn ra khỏi hoàng-thành, cắt tóc vào rừng sâu mong được yên-tĩnh để tìm nghĩ phương – pháp cứu độ chúng-sinh thoát khỏi vòng khổ ải và đưa họ lên bờ giác – ngô vĩnh-viễn yên vui. Ban đầu Ngài phải đi tìm học hỏi với những đạo – sĩ danh-tiếng nhất Ấn – Độ thời bấy giờ, nhưng rồi Ngài nhận thấy chân-lý và lối tu hành của họ cũng không có gì là siêu-thoát. Từ đó, Ngài đi vào ẩn trong dãy núi Tuyết-Sơn, phải tự mình tu luyện để tìm ra cái đạo giải thoát như mong muốn Ngài mong ước. Trong sáu năm tròi tu khổ-hạnh, Ngài củng chưa thu-thập được-kết quả gì khả-quan. Bấy giờ, Ngài mới đi đến núiTượng-Đâù ( Gajasirsa ) bên bờ sông Ni-Liên-thuyền. Sau khi tắm rưã xong Ngài thọ bát cháo sữa ( đè-hồ ) của mấy nàng mục-nữ cúng. Rồi Ngài đi đến dưới gốc cây Tất-bát-la ( Pippale, sau này người đời gọi là cây Bồ-đề nghĩa là cây giác ngộ, để kỷ niệm sự giác ngộ cuả Đức Phật dưới gốc cây ấy ). Ngài ngồi thiền-định ở đó và thề rằng :“ Nếu ta ngồi đây mà không chứng được đạo-quả, thì dù thịt nát xương tan, ta quyết không khi nào đứng dậy ” .d ) Thành đạo và thuyết pháp độ sinh. – ngài ngồi thiền định dưới gốc cây Tất-bát-la, cho đến ngày thứ bốn mươi chín, lúc sao mai vừa mọc, thì Ngài hốt-nhiên đại – ngộ, thấy được chân lý của thiên hà và nguồn gốc sinh tử của chúng – sinh. Ngài đã thành Phật với thương hiệu làPhật Thích-Ca-Mâu-Ni ( Cakya Muni ) .Sau khi thành đạo trong khoảng chừng thời hạn bốn mươi chín năm ( Có chổ chép là bốn mươi lăm năm ) đức Phật chu du khắp cả những lưu vực sông Hằng, đem đạo vô thượng của ngài giáo hóa chúng sinh, không phân biệt già trẻ, nam nữ, giàu nghèo, sang hèn, màu da, chủng tộc, tri thức hay ngu si .Nhờ lòng từ bi không bờ mé, đức quyết tử to lớn vô biên, Ngài đã giảng nói pháp trên năm trăm hội, hóa-độ vô số quần-sinh, thoát vòng mê-mờ khổ não. Và do đó, đạo Phật được xây dựng trên cõi đời .e ) Phật nhập Niết-bàn. – Vào năm 554 năm Trước tây-lịch ( tính đến năm 1964 tức là : 1964 + 554 = 2508 năm ) Đức Phật giờ đây đã 80 tuổi. Nhận thấy chiếu nguyện của mình đã thực thi, trách nhiệm độ sinh của mình đã khá đầy đủ, một hôm, đức Phật cho hội đệ từ của Ngài lại, ban những lời di chúc cặn kẽ, rồi từ giã cõi đời một cách bình thản, đơn giản và giản dị móc ở giữa hai cây bông vải ( Cala ) ngoài châu thành Câu-thi-la ( Kusivagarâ ) ,Như thế ấy, một cuộc sống vô cùng vĩ dại đã Open và biến ẩn như một luồng ánh sáng mầu nhiệm khi đã lưu lại ba tiến trình lớn một cách vô cùng đơn giản và giản dị và đầy ý nghĩa :- Ra đời bên cạnh một gốc cây- Thành đạo bên một gốc cây- Và lìa đời ở giữa hai cành cây !

II.-Lịch Sử Truyền Bá Phật Giáo Tại Ấn Độ 

1.-Bốn thời kỳ kiết tập kinh-điển.

a) -Bốn tháng sau khi Đức Phật nhập niết-bàn, Ngài Ma Ha Ca Diếp (MaHa Kasypa) thay Phật thống suất tăng-chúng đã triệu-tập một hội nghị gồm khoảng 500 đại đệ-tử của Phật, ở thành Vương-Xá ( Rajagrika) để giảng tụng lại những giáo-lý mà Đức Phật đã dạy. Trong hội-nghị đầu tiên này, Ngài Ma Ha Ca Diếp được suy tôn ngồi ghế chủ-tọa; Ngài A-Nan, là Vị đệ-tử thường theo Phật nghe nhiều và nhớ lâu, được cử ra tụng lại những lời dạy của Phật; còn Ngài Ưu-Ba-Ly (Upali) là vị đệ-tử thông-suốt và nghiêm-trì giới luật nhất, được cử ra tụng giới-luật. Hội nghị này đã kết-thúc sau bảy tháng làm việc và 500 vị đại đệ-tử đều công nhận đó là những lời chân thật của Phật.

Đại-hội này được mệnh-danh là “ Kỳ kết-tập thứ nhất “ .b ). Kỳ kết-tập thứ hai. – Khoảng một trăm năm sau khi Phật nhập – diệt, vì có sự sự không tương đồng về giới-điều, nên tăng chúng chia làm hai nhóm, họp riêng ở hai thành Vaisaly và Vàjji .Nhóm tăng-sĩ họp ở thành Vaixaly do sự triệu tập của Ngài trưởng-lão Yasa thọ 165 tuổi, gồm có 12.000 Tăng-sĩ, nhưng trong số ấy chỉ có 700 vị lão-thành mới có quyền biểu – quyết. Hội-nghị này họp dưới quyền chủ-tọa của Ngài Revala và đồng-thanh biểu-quyết : “ Không nên sữa đổi cho sai những điều luật của Phật đã truyền đạo mặc dầu Đức-Thề-Tôn đã có di-huấn rằng nếu chư Tăng chấp thuận đồng ý cung 2 nhau là thấy điều-luật nào của Như-Lai đã chế-định là ít quan-trọng và không hề thụ-trì được nữa, thì được phép sữa chửa ” .Trong khi ấy thì nhóm Tăng-sĩ ở thành Vajji họp dưới quyền chủ-tọa của đại-đức Vajjiputra lại chấp-thuận. Trong kỳ kết-tập thứ hai này chỉ đặt trọng tâm trong việc giải-quyết về giới-luật mà thôi. Tuy thế, Tăng-đồ cũng chia thành hai phái rõ ràng. Phái do Ngài Yasa triệu-tập và giữ đúng giới-luật của Phật, thì gọi là phái nguyên thủy ( Théravadins ) hay thượng-tọa bộ .Phái do Ngài Vajjiputra sữa đổi mười điều luật của Phật thì gọi là phái Tiến-thủ, hay là Đại-chúng bộ ( Mahasanghikas ) .Từ đấy, Phật Giáo chia ra hai phái rỏ rệt và là cội rể cho hai mươi tôn-phái sau này .c ). Kỳ kết-tập thứ ba : Hơn hai thế-kỷ sau ngày Phật nhập-diệt ( 274 năm trước tây lịch ), Hoàng-Đế A-Dục lại triệu-tập 1000 vị Đại-trưởng-lão Uyên-thân đê kết-tập tầm cỡ tại thành Pataliputra ( tức là Bihar và Patra ngày này ) duới quyền chủ tọa của Ngài Mục-Kiền-liên Tu-Đế ( Mogaliputta Tissa ). Sau chín tháng thao tác, hội nghị đã hòan – thành công xuất sắc – tác k61t-tập kinh-điển, ngòài ra lại còn chỉnh – đốn Tăng – giới, tiêu diệt những hạng Tu-sĩ phạm trai, phá giới, vô kỷ – luật .d ) Kỳ kết-tập thứ tư. – Vào khoảng chừng 600 năm sau khi Phật nhập – diệt, nghĩa là vào thế-kỷ thứ nhất Tây-Lịch, Vua Ca-Ni-Săc-Ca ( Kaniska ) một vị Đại-Đế Ấn Độ, có tâm hộ pháp chẳng thua gì Vua A-Dục, đã triệu tập 500 vị Bồ Tát, 500 vị Tỳ-kheo cùng 500 người tại-gia cư-sĩ, tại thành Ca-Thập-DiLa để kết-tập kinh-điển dưới quyền chủ-tọa của hai Ngài Hiếp-Tôn-Giả và Thế Hữu .Kỳ kết-tập này gọi là kỳ kết-tập lần thứ tư .Trong bốn kỳ kết-tấp này thì hai kỳ đầu chưa cần đến sự biên chép, nghĩa là chỉ đọc tụng lại, xem lời lẽ nào là của Phật đã nói ra, hay xét những ý nghĩa nào là đúng với chánh-pháp .Đến thời kỳ thứ ba và thứ tư mới dùng đến văn-tự để biên chép thành sách – vở. Trong sự biên chép này, chư Tăng chia làm hai phái : Phái Nam thì ghi bằng văn Pali, còn phái Bắc thì ghi bằng văn phạn .

2.-Nam -phương và Bắc-phương Phật Giáo.

– Như trên đã nói, vì kinh-điển được ghi chép bằng hai thứ văn : Pali và Phạn, nên những xứ nói tiếng Pali thì kinh-điển bằng Pali được truyền bá, còn những xứ dân chúng nói tiếng Phạn thì kinh-điển bằng Pali được truyền-bá, còn những xứ dân-chúng nói tiếng Phạn thì kinh-điển bằng Phạn-văn được truyền tụng. Nếu lấy Trung Ấn Độ là cứ-điểm, thì những xứ phía Nam Ấn Độ và lan ra đến những xứ Tích-lan, Miến-điện, Thái-lan, Ai-lao, Cao-mien … đều theo tầm cỡ Pali, nên cũng gọi là Nam-phương Phật Giáo .Còn những xứ thuộc Trung Ấn Độ, Bắc Ấn-Đo ảvà lan ra đến Nêpal, Tây-tạng, Trung – hoa, Việt-nam, Cao-ly, Nhật-bổn … thì lại căn-cứ theo tầm cỡ chữ Phạn, và được gọi là Bắc-phương Phật Giáo .Nam-phương hay Bắc-phương Phật Giáo đều thờ chung một đấng giáo-chủ là Đức Phật Thích-ca và đều tuân theo những yếu điểm mà Phật đã dạy. Tuy thế, tùy theo căn-cơ, tâm-lý và tác động ảnh hưởng văn hóa truyền thống cùng đời sống của dân chúng có khác nhau giữa Nam và Bắc-phương mà chiêu thức tu hành và sự phát huy giáo lý có điểm dị và đồng. Bắc-phương đa số đi về lối tung-hoành, phát-triển, phóng-túng không câu nệ về hình thức. Nam-phương thì lại có tánh-cách thủ-cựu, trung thành với chủ với Phật Giáo Nguyên-thủy, tôn-trọng hình-thức. Do đó mà có hai phái : Tiểu-thừa Phật Giáo ở Nam-phương và Đại-thừa Phật Giáo ở Bắc-phương .

3.- Sự phát-triển của Đại-thừa và Tiểu-thừa.

Ở đây vì tất cả chúng ta còn đang ở trong phần lịch sử dân tộc truyền bá Phật Giáo, nên chưa vội đề-cập đến sự sai khác giữa giáo-lý Đại-thừa và Tiểu-thừa. Chúng ta hãy khu-biệt vấn-đề và nói đến sự phát-triển của hai phái ấy ở Ấn Độ như thế nào mà thôi .a ) Sự phát-triển của những bộ-phái Tiểu-thừa .– Như tất cả chúng ta đã biết, nguyên-nhân Tiểu-thừa chia ra làm hai bộ-phái, vì trong kỳ kết-tập lần thứ hai, về vấn-đề giới-luật có chổ bất-đồng, Tăng-chúng mới chia ra làm hai phái : Một phái gồm những vị Trưởng-lão gọi là Thượng-tọa-bộ ; và một phái gồm đa số những vị Tăng-sĩ trẻ tuổi, nhưng rất phần đông, gọi là Đại-chúng-bộ .Trong khoảng chừng thời-gian 100 năm sau kỳ kết-tập lần thứ hai ấy, Đại-chúng-bộ lần lượt chia ra tám bô-phái như sau :- Nhất-thuyết-bộLần thứ nhất chia làm ba bộ – Thuyết-xuất-thế-bộ- Kê-dẫn-bộLần thứ hai chia ra một bộ nữa là – Đa-văn-bộLần thứ ba chia ra một bộ nữa là – Thuyết-giả-bộ- Chế-đa-bộLần thứ ba chia ra một bộ nữa là Tây-sơ-bộBộ nữa là : Bắc-sơn-bộNhư thế là từ một bộ phái chính là Đại-chúng-bộ mà lần lượt chia làm tám chi bộ ( cộng là 9 bộ ). Trong lúc ấy thì bên Thượng-tọa-bộ khởi đầu sống một cách yên-ổn trong núi Ca-Tháp-di-la, nhưng theo với thời-gian, cũng phân phái dần, và sau cuối gồm những bộ như sau :

1. Thuyết-nhứt-thế-hữu bộ
2. Độc-tử bộ
3. Pháp-thượng bộ

Thượng-Tọa-Bộ 4. Hiền-vị bộ

5. Chánh-thượng bộ
6. Mật-lâm-sơn bộ
7. Hóa-địa bộ
8. Pháp-tạng bô
9. Âm-quang bô
10.Kinh-lượng bộ

Tóm lại, bên phía Thương-Tọa-bộ, từ căn-bản ( Thương-Tọa-bộ ) đến Trụ sở, gồm cả thảy 11 bộ .Nếu tổng số cả Thương-Tọa-bộ lãnh Đại chúng bộ, thì Tiểu-thừa gồm cả thảy là 20 bộ .b ) Sự tăng trưởng của phái Đại-thừa .Mặc dù trong giáo-lý của Đức Phật có gồm cả ý nghĩa Tiểu-thừa lẫn Đại-thừa, nhưng trong bốn, năm thế-kỷ đầu của Phật-lịch, vì căn – cơ của Tăng-sĩ và Fan Hâm mộ Ấn Độ thích hợp với Tiểu-thừa hơn, nên giáo-phái Tiểu-thừa được tăng trưởng mạnh. Nhưng từ thế kỷ thứ nhất Tây-lịch, hay thứ sáu Phật-lịch, giáo – lý Đại-thừa khởi đầu phát-triển mạnh ở phía Bắc Ấn Độ và từ từ lan rộng ở Bắc-phương .Công tiên phong, nhờ đó Đại-thừa Phật Giáo được phát-triển mạnh là của Ngài Mã-Minh .Ngài Mã-Minh, người ở Bắc Ấn Độ, sanh vào thế-kỷ thứ nhất Tây-lịch, lúc đầu theo ngoại-đọa, có tài biện-bác, sau vì biên-luận thua Ngài Hiếp-Tôn-Giả, nên mới quy-y theo Phật Giáo. Chính Ngài là tác-giả bộ luận Đại-thừa Khởi-tín, Đại-thừa Trang-nghiêm kinh luận, và nhờ sự hộ-pháp đắc-lực của Vua Ca-Ni-Sắc-Ca, Ngài đã phục-hưng và truyền-bá môt cách mạnh-mẽ giáo-lý Đại-thừa .Một trăm năm sau, tiếp nối đuôi nhau sự nghiệp của Ngài Mã-Minh, có Ngài Long-Thọ ở nước Tỳ-Dạt-La ( Nam Ấn Độ ) có Thiên-Tư rất tốt, lúc còn nhỏ đã thông-hiểu những kinh-giáo của Bà-La-Môn, Phệ-Đà …, tinh-thông cả Thiên-văn, địa-lý, y-học, số-học. Ban đầu Ngài tu theo Tiểu-thừa, sau Ngài nghiên-cứu giáo-lý Đại-thừa và làm ra những bộ luận Trung-quán, Thập-nhị-môn, Trí-độ … để phá-trừ tà-chấp, chỉ rỏ chánh-lý Đại-thừa, và đi chu-du những nước để hàng-phục ngoại-đạo. Đại-thừa nhờ đó ngày một thêm tỏ rạng .Nối tiếp Ngài Long-Thọ có hai vị đệ-tử là Ngài Long-Trí và Đề-bà là những người có công lớn trong việc phát dương Đại-thừa .Sau khi Phật nhập Niết-bàn hơn 900 năm, nghĩa là khoảng chừng thế-kỷ thứ tư Tây-lịch, có hai đồng đội Ngài Vô-trước và Thế-thân, sanh ở Bắc Ấn Độ, trước theo Bà-la-môn giáo, sau quy-y theo Phật .Ngài Vô-trước là anh, giác ngộ giáo-lý Đại-thừa trước, còn Ngài Thế-Thân khởi đầu tu học giáo-lý Tiểu-thừa, sau nhờ anh là Ngài Vô-trước hướng-dẫn sang Đại-thừa. Từ đó hai đồng đội tích-cực phát-dương giáo-nghĩa Đại-thừa Duy-thức và làm ra những bộ : Hiển-Dương Thánh-giáo luận, Nhiếp-Đại-thừa luận … cả hai Ngài đều chủ trương về Duy-thức, biên rỏ cái lý : ” Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức ”. Do đó, học thuyết của hai Ngài gọi là Pháp-tướng Duy-thức-học, và hai Ngài được xem như là khai-tổ của Pháp-tướng Duy-thức-học .Ảnh hưởng của hai Ngài tiếp nối đuôi nhau lan rộng sang đến thế-kỷ thứ 10 Tây-lịch và làm cho Đại-thừa Phật Giáo ở Ấn Độ được phát-triển một cách rực-rỡ, và lu-mờ giáo-lý Tiểu-thừa .

4- Sự suy-tàn của Phật Giáo tại Ấn Độ 

– Vào khoảng chừng 2000 năn sau khi Phật nhập – diệt, đạo Phật ở Ấn Độ lu – mờ dân và phần nhiều không còn vang bóng gì nữa. Nguyên-nhân của sự suy-tàn ấy hoàn toàn có thể quy vào ba lý-do sau đây :a. – Đạo Bà-La-Môn, trước thời kì Đức Phật Open là một Tôn-giáo độc-tôn ở Ấn Độ. Nhưng từ khi đạo Phật sinh ra và ngày càng được phát-triển mạnh vì tinh-thần từ-bi bình-đẳng và ánh-sáng rực-rỡ của trí-huệ Đạo Bà-La-Môn mất dần thân-thế và lui mãi vào trong bóng tối. Nhưng những vị chỉ huy tôn-giáo ấy không ngã lòng, một mặt họ lo tu-chỉnh giáo-lý của họ, một mặt họ thanh-lọc hàng ngũ và dựa vào thế-lực của chính-quyền, từ từ họ chiếm lại địa-vị cũ và rất là bài-xích Phật Giáo .b. – Hồi – giáo là một tôn-giáo nguyên ở Thổ – Nhĩ – Kì ( Turquie ) khi đã xâm nhập Ấn Độ bằng quân-sự, đã dùng những thủ-đoạn khốc-liệt để diệt trừ chánh-pháp, tàn hại Phật Giáo bằng cách đập tháp, phá chùa, đốt kinh-điển, giết hại Phật-tử. Do đó, đạo Phật hầu hết không còn chổ đứng ở Ấn Độ nữa .c. – Lý do thứ ba là nguyên do nội-lai. Nếu chỉ vì hai nguyên do ngoại-lai nói trên, thì đạo Phật ở Ấn Độ không dễ gì bị tiêu-diệt một cách nhanh gọn như vậy. Sự suy-sụp Phật Giáo ở Ấn Độ còn là sự suy-đồi của Tăng-giới, Phật-tử thiếu tu thiếu học, thiếu tinh-thần tiến-thủ của giới lãnh-đạo Phật Giáo Ấn Độ lúc bấy giờ nữaNếu sự phá-phách ở bên ngoài không có sự gián-tiếp tiếp tay phá – hoại ở bên trong, thì Phật Giáo ở Ấn Độ không diễn ra cái cảnh suy-tàn hoang-vắng như tất cả chúng ta đã thấy trong năm thế-kỷ trước đây .

C.- Kết Luận 

Đức Phật đã dạy: có sanh thì có diệt, có thành thì có hoại. Vậy sau mười lăm thế-kỷ hưng-thịnh, Phật Giáo ở Ấn Độ dần dần suy-đồi cũng là một sự thường. Luật Vô-thường chi phối tất cả những sự việc của đời này.

Và cũng do cái luật biến-dịch, chổ này khuyết thì chổ kia bồi, làn sóng lặn ở chổ này để hưng ở chổ khác. Đạo Phật đã chuyển đi từ trung-tâm điểm là a đã chuyển đi từ trung-tâm điểm là Ấn Độ để lan ra, hưng thịnh ở nước khác thứ nhất là chung quanh Ấn Độ, rồi sang Nước Trung Hoa và từ từ lan ra khắp thế-giới .

Mục lục Q2  |  Trang sau |

| Quyển 1 | Quyển 2 | Quyển 3 |

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *