長沙復長沙 , 一步一回卻 。 日入行未已 , 客子淚交落 。 君不學仙家美睡翁 , 登山涉水怨何窮 。 古來名利人 , 奔走路途中 。 風前酒店有美酒 , 醒者常少醉者同 。 長沙長沙奈渠何 , 坦路茫茫畏路多 。 聽我一倡窮途歌 。 北山之北山萬疊 , 南山之南波萬級 , 君胡為乎沙上立 。 Trường sa phục trường sa, Nhất bộ nhất hồi khước. Nhật nhập hành vị dĩ, Khách tử lệ giao lạc. Quân bất học tiên gia mỹ thuỵ ôngĐăng sơn thiệp thuỷ oán hà cùng. Cổ lai danh lợi nhân, Bôn tẩu lộ đồ trung. Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu, Tỉnh giả thường thiểu, tuý giả đồng. Trường sa, trường sa, nại cừ hà ? Thản lộ mang mang uý lộ đa. Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca. Bắc sơn chi bắc, sơn vạn điệp, Nam sơn chi nam, ba vạn cấp, Quân hồ vi hồ sa thượng lập ? Bãi cát dài, lại bãi cát dài, Đi một bước như lùi một bước. Mặt trời lặn mà vẫn còn đi. Khách ( trên đường ) nước mắt lã chã rơi. Anh không học được ông tiên có phép ngủ kĩCứ trèo non lội nước mãi, khi nào cho hết ta oán ! Xưa nay hạng người danh lợi, Vẫn tất tả ở ngoài đường sá. ( Hễ ) quán nhậu ở đầu gió có rượu ngon, ( Thì ) người tỉnh thường ít mà người say vô số ! Bãi cát dài, bãi cát dài, biết tính sao đây ? Bước đường bằng phẳng thì u ám và đen tối, bước đường ghê sợ thì nhiều. Hãy nghe ta hát khúc “ đường cùng ”, Phía bắc núi Bắc núi muôn trùng, Phía nam núi Nam sóng muôn đợt. Anh còn đứng làm chi trên bãi cát ? Bãi cát lại bãi cát dài, Đi một bước như lùi một bước. Mặt trời đã lặn, chưa dừng được, Lữ khách trên đường nước mắt rơiKhông học được tiên ông phép ngủ, Trèo non, lộ suối, giận khôn vơi ! Xưa nay, phường danh lợi, Tất tả trên đường đời. Đầu gió hơi men thơm quán nhậu, Người say vô số, tỉnh bao người ? Bãi cát dài, bãi cát dài ơi ! Tính sao đay ? Đường bằng u ám và đen tối, Đường ghê sợ còn nhiều, đâu ít ? Hãy nghe ta hát khúc “ đường cùng ”, Phía bắc núi Bắc, núi muôn trùngPhía nam núi Nam, sóng dào dạt. Anh đứng làm chi trên bãi cát ?

[1] Thần tiên thập dị chép Hạ Hầu Ấn lúc leo núi hay lội nước mắt vẫn ngủ say, người bên cạnh nghe thấy tiếng ngáy mà ông vẫn bước đều, không hề trượt hay vấp.
[2] Hậu Hán thư chép, Pháp Chân bảo viên thái thú: “Nếu ông cứ bắt tôi ra làm quan, thì tôi sẽ đi ẩn ở bắc núi Bắc hoặc ở nam núi Nam”. “Nam sơn chi nam” có bản chép là “Nam hải chi nam”.

Cao Bá Quát đỗ cử nhân năm 1831 tại trường thi Hà Nội. Sau đó, ông nhiễu lần vào kinh đô Huế thi Hội nhưng không đỗ. Bài ca ngắn đi trên bãi cát có thể được hình thành trong những lần Cao Bá Quát đi thi Hội, qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng như Quảng Bình, Quảng Trị. Nhà thơ mượn hình ảnh người đi khó nhọc trên bãi cát để hình dung con đường mưu cầu danh lợi đáng chán ghét mà ông buộc phải đeo đuổi cũng như sự bế tắc của xã hội nhà Nguyễn. Bài thơ viết theo thể hành (còn gọi là ca hành). Đây là một thể thơ cổ, có tính chất tự do phóng khoáng, không bị gò bó về số câu, độ dài của câu, niêm luật, bằng trắc, vần điệu.

Bài ca ngắn đi trên bãi cát biểu lộ sự chán ghét của một người trí thức đối với con đường danh lợi tầm thường đương thời và niềm khao khát thay đổi cuộc sống. Nhịp điệu bài thơ góp phần diễn tả thành công những cảm xúc, suy tư của nhân vật trữ tình về con đường danh lợi gập ghềnh, trắc trở.

Nguồn: Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, NXB Văn học, 1976

Cao Bá Quát đỗ cử nhân năm 1831 tại trường thi Hà Nội. Sau đó, ông nhiễu lần vào kinh đô Huế thi Hội nhưng không đỗ.có thể được hình thành trong những lần Cao Bá Quát đi thi Hội, qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng như Quảng Bình, Quảng Trị. Nhà thơ mượn hình ảnh người đi khó nhọc trên bãi cát để hình dung con đường mưu cầu danh lợi đáng chán ghét mà ông buộc phải đeo đuổi cũng như sự bế tắc của xã hội nhà Nguyễn. Bài thơ viết theo thể hành (còn gọi là ca hành). Đây là một thể thơ cổ, có tính chất tự do phóng khoáng, không bị gò bó về số câu, độ dài của câu, niêm luật, bằng trắc, vần điệu.biểu lộ sự chán ghét của một người trí thức đối với con đường danh lợi tầm thường đương thời và niềm khao khát thay đổi cuộc sống. Nhịp điệu bài thơ góp phần diễn tả thành công những cảm xúc, suy tư của nhân vật trữ tình về con đường danh lợi gập ghềnh, trắc trở.Nguồn:, NXB Văn học, 1976

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *